Đề Xuất 2/2023 # Mang Thai Bị Thủy Đậu Cần Thận Trọng Như Nào? # Top 7 Like | Europeday2013.com

Đề Xuất 2/2023 # Mang Thai Bị Thủy Đậu Cần Thận Trọng Như Nào? # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Mang Thai Bị Thủy Đậu Cần Thận Trọng Như Nào? mới nhất trên website Europeday2013.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mang thai bị thủy đậu cần thận trọng như nào?

Thủy đậu là một bệnh do nhiễm virut tên là Herpes zoster. Nếu bạn đã từng nhiễm thủy đậu, cơ thể sẽ sản xuất miễn dịch chống lại virut. Khi virut xâm nhập cơ thể lần nữa thì sẽ bị tiêu diệt. Nhưng nếu chưa từng bị thủy đậu, nhất là trong khi đang mang thai cần phải thận trọng hơn tránh những trường hợp xấu nhất ảnh hưởng đến thai nhi.

1.    Nguy cơ nhiễm virut gây bệnh thủy đậu:

Bạn có thể nhiễm virut từ người đang mắc bệnh. Người nhiễm bệnh có thể truyền bệnh từ trước khi xuất hiện bóng nước 2 ngày cho đến khi các bóng nước này khô mài(đóng vảy). Như vậy, trường hợp có nguy cơ nhiễm khi: – Tiếp xúc gần với người bệnh – Đối diện với người mắc bệnh ít nhất 5 phút – Ở cùng phòng với người bệnh ít nhất 15 phút Từ khi bị nhiễm virut đến khi có biểu hiện, triệu chứng là khoảng 10 ngày đến 3 tuần, khoảng thời gian này chính là thời gian ủ bệnh.

2.    Cần làm gì khi mang thai có tiếp xúc với người bị thủy đậu:

Nếu thai phụ từng bị thủy đậu rồi thì không cần phải lo lắng nhiều, không cần làm gì cả. Bởi kháng thể của bạn có thể bản vệ bạn cũng như bảo vệ em bé của bạn. Trong trường hợp nếu chưa bị hoặc không chắn chán, hoặc thấy nổi bóng nước nghi ngờ thủy đạu, bạn nên đi khám bác sĩ ngay để có thể biết rõ tình trạng của mình cũng như có được lời khuyên cần thiết từ bác sĩ.

Thận trọng khi mang thai bị thủy đậu

3.    Khi mang thai bị thủy đậu sẽ bị ảnh hưởng gì?

Mặc dù tỉ lệ không nhiều nhưng vẫn có trường hợp thủy đậu gây những ảnh hưởng nghiêm trọng như viêm phổi, viêm gan… Nguy cơ này tăng lên ở nhóm những phụ nữ có sẵn bệnh lý ở phổi, hút thuốc, mang thai được 20 tuần tuổi. Ảnh hưởng của thủy đậu lên thai nhi tùy thuộc vào giai đoạn nhiễm bệnh của mẹ: - Giai đoạn thai dưới 28 tuần: Thai ít bị ảnh hưởng hơn so với các giai đoạn khác, dù có thể tổn thương thai nhi nhưng tỷ lệ không cao. Nếu ảnh hưởng, thai nhi có thể bị tổn thương ở mắt, tay chân, não… Trường hợp thai phụ mắc bệnh trong giai đoạn này, nếu cần, bác sĩ sẽ cho sử dụng thuốc và hướng dẫn cách theo dõi thai kỳ. Thai phụ cần thông báo cho bác sĩ khám thai nếu không theo dõi liên tục cùng với một bác sĩ để đánh giá thai ở giai đoạn sau - Giai đoạn thai từ 28-36 tuần: Thai nhi có thể nhiễm virut nhưng không biểu hiện triệu chứng. - Giai đoạn trên 36 tuần: Đây là giai đoạn ảnh hưởng nhiều nhất. Nếu thai phụ sinh con trong vòng 7 ngày xuất hiện bóng nước hoặc tuần đầu sau sinh,  em bé có thể mắc thủy đậu nên sẽ được sử dụng thuốc dự phòng hay điều trị. -  Thai phụ vẫn có thể cho con bú nếu mắc thủy đậu trong thai kỳ hay sau sinh, nhưng nếu bóng nước xuất hiện ngay đầu vú, bạn cần cho con bú bằng vú bên kia, bên bị bóng nước vắt sữa bỏ, chờ đến khi bóng nước khô, đóng vảy.

Phòng ngừa khi mang thai bị thủy đậu

4.    Mang thai bị thủy đậu sinh em bé khi nào là hợp lý?

Thời điểm sinh tùy thuộc tình trạng của sản phụ và thai nhi. Tốt nhất nên chờ lui bệnh, bạn bình phục, lý tưởng nhất là sau 7 ngày từ khi nổi bóng nước. Trong trường hợp bạn không đủ sức khỏe, có biến chứng khi bị thủy đậu bác sĩ sẽ tư vấn thời điểm với bạn, có thể phải sớm hơn thời điểm dự đoán. Như vậy, vai trò của tiêm ngừa là khá quan trọng. Nếu đã tiêm chích thủy đậu bạn sẽ không phải lo lắng về bệnh này khi mang thai. Còn khi thai phụ bị nhiễm thủy đậu hãy đến thăm khám bác sĩ trong thời gian sớm nhất để tránh những ảnh hưởng xấu đến thai nhi.

Bị Thủy Đậu Khi Mang Thai 3 Tháng Đầu Không Nên Xem Thường?

Bệnh thủy đậu thường biểu hiện sốt, mệt mỏi và nổi bóng nước khắp người, đường kính bóng nước 2-5mm, phụ nữ mang thai bị thủy đậu ảnh hưởng của bệnh trên thai nhi tùy vào từng giai đoạn tuổi thai

Nhận biết có thai bằng phương pháp dân gian

Dấu hiệu thai chết lưu trong 3 tháng đầu sớm nhất

Tác hại bệnh thủy đậu với phụ nữ mang thai

Bệnh thủy đậu tuy ít xảy ra ở người lớn, nhưng khi xảy ra thì biến chứng lại nặng nề hơn so với trẻ em. Thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu có nguy cơ viêm phổi do VZV từ 10-20%. Trong số những người viêm phổi do VZV, nguy cơ tử vong lên đến 40%. Tỷ lệ tử vong ở phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu cao nhất trong số những người lớn nhiễm bệnh này

1/ Nguy hiểm cho bà bầu khi mắc thủy đậu

Bệnh thủy đậu (thường gọi là trái rạ) là bệnh lây lan qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp gây nhiễm Varicella zoster virus (VZV). Thời gian ủ bệnh khoảng hai tuần. Triệu chứng lâm sàng thường dễ nhận biết: sốt, mệt mỏi và nổi bóng nước khắp người, đường kính bóng nước 2-5mm. Đây là một bệnh lành tính thường gặp ở trẻ em (khoảng 90% trường hợp mắc bệnh xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi), tỷ lệ tử vong khoảng 1/50.000 trường hợp tại Mỹ.

2/ Bệnh thủy đậu gây nguy hiểm cho thai nhi như thế nào?

Đối với những thai phụ mắc bệnh thủy đậu nguyên phát khi mang thai, sự ảnh hưởng của bệnh trên thai nhi tùy vào từng giai đoạn tuổi thai:

Bị thủy đậu trong ba tháng đầu, đặc biệt là tuần lễ thứ 8-12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0,4%. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần. Ngoài ra, có thể gây sẩy thai hoặc thai chết lưu.

Trong ba tháng giữa, đặc biệt là tuần 13-20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%.

Sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ, hầu như không ảnh hưởng trên thai.

Cách trị bệnh thủy đậu cho phụ nữ mang thai

Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng năm ngày trước sinh và hai ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lan tỏa do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỷ lệ bé sơ sinh tử vong lúc này lên đến 25-30% số trường hợp bị nhiễm. Để tránh nguy cơ lây bệnh cho con, ngay sau sinh bé cần được dùng varicella zoster immune globulin và cách ly với mẹ.

Khi mắc bệnh thủy đậu, thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm.

Vì nguy cơ cao do biến chứng của bệnh thủy đậu, các thai phụ chưa có kháng thể bảo vệ (chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chưa được chủng ngừa trước khi mang thai) nên dùng varicella zoster immune globulin (VZIG) trong vòng 72 giờ đầu sau khi phơi nhiễm với bệnh.

Việc dùng VZIG không phòng ngừa được nhiễm trùng bào thai, hội chứng thủy đậu bẩm sinh cũng như bệnh thủy đậu sơ sinh. Như vậy, việc dùng VZIG cho thai phụ chỉ phòng ngừa biến chứng nặng ở mẹ chứ không giúp ích cho thai nhi hoặc trẻ sơ sinh.

Để dự phòng biến chứng trên con nên dùng VZIG cho bé sơ sinh. Đối với thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu diễn tiến nặng có nguy cơ viêm phổi, nên được tư vấn dùng Acyclovir đường tĩnh mạch để giảm nguy cơ cho cả mẹ và thai. Acyclovir có vai trò ức chế sự phát triển của virus nên ức chế sự phát triển của bệnh.

Mũi tiêm phòng cần thiết trước khi mang thai

Khi mang thai, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ yếu hơn bình thường, nguy cơ nhiễm bệnh nói chung tăng lên. Có một số bệnh được phòng tránh bằng cách tiêm vaccine. Vì thế các chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nói chung và các chị em có kế hoạch mang thai được khuyên đi tiêm phòng để tránh những rủi ro đáng tiếc.

Tiêm vaccine phòng chống các bệnh: thủy đậu, rubella, sởi , quai bị, cúm, viêm gan B, ung thư cổ tử cung… được khuyên nên tiêm trước thai kỳ

Qua một số vụ dịch gần đây, càng thấy rõ giá trị của việc tiêm vaccine phòng bệnh. Và một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng khi người mẹ được tiêm phòng sởi trước khi mang thai thì đứa trẻ sinh ra cũng có kháng thể và miễn dịch được với virus sởi. Nếu trẻ có mắc thì biểu hiện bệnh cũng nhẹ hơn so với những trẻ mẹ không tiêm phòng/ bản thân trẻ chưa được tiêm phòng (vaccine sởi chỉ tiêm cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên). Chia sẻ với em một số thông tin như vậy để cho thấy ý nghĩa của việc tiêm vaccine phòng bệnh.

Theo thông tin em kể tính ra thời điểm em tiêm vaccine là trước khi em có thai gần 1 tháng. Có loại vaccine được khuyên nên tiêm trước khi có thai ít nhất 1 tháng (vaccine thủy đậu), có loại khuyên tiêm trước có thai 3 tháng (vaccine rubella), có loại vaccine khi mang thai vẫn tiêm được (vaccine phòng cúm).

MMR, vắc-xin ngừa sởi, quai bị và rubella, được khuyến cáo là loại vaccine không nên tiêm phòng khi mang thai. Về lý thuyết, vaccine MMR có thể làm mẹ bầu nhiễm Rubella và gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh như chậm phát triển thần kinh, bị dị tật ở mắt, tai… Tuy nhiên, không ít trường hợp mẹ tiêm ngừa MMR trong khi mang thai, bé cưng sinh ra vẫn hoàn toàn khỏe mạnh. Vì vậy, nếu lỡ tiêm phòng MMR trong tam cá nguyệt đầu tiên, nguy cơ dị tật có thể rất thấp.

Trong câu hỏi của em không nói rõ em tiêm vaccine gì, tuy nhiên em cũng cần biết thêm rằng có những thai phụ nhiễm bệnh trong thời gian mang thai 3 tháng đầu, sinh con vẫn khỏe mạnh.

Như vậy để khuyên em rằng, trong thai kỳ của em cần được quản lý và theo dõi tốt, và khám sàng lọc phát hiện sớm các dị tật trước sinh. Đây là vấn đề rất quan trọng. Em nên đến các bệnh viện chuyên khoa sản như BV PSTW, Bệnh viện Đại học Y có trung tâm chẩn đoán trước sinh để làm các xét nghiệm sàng lọc vào tuần thứ 12 đối với xét nghiệm double test, tuần 15-17 với xét nghiệm triple test. Và làm siêu âm hình thái. Khi có các kết quả sàng lọc, các bác sỹ sẽ có lời khuyên tốt nhất cho em.

tu khoa

phu nu mang thai bi benh thuy dau

lam gi khi bi thuy dau

cach cham soc phu nu mang thai bi thuy dau

Dấu Hiệu Trẻ Bị Bệnh Thủy Đậu Và Cách Phòng Tránh Biến Chứng Thủy Đậu

Thời điểm tháng 3 – 4 là lúc mà bệnh thủy đậu bùng phát ở trẻ cũng như người lớn. Nhiều bậc cha mẹ vì chưa kịp trang bị những kiến thức cần thiết trong việc chăm sóc bệnh thủy đậu ở trẻ em mà vô tình khiến tình trạng của bé ngày càng tiến triển xấu.

Thủy đậu là một bệnh do virus gây ra khá thường gặp và dễ lây lan. Bệnh biểu hiện bằng nhiều nốt mụn rộp nước nổi khắp cơ thể và trong niêm mạc miệng, lưỡi. Mọi người hầu như chỉ bị thủy đậu một lần trong đời vì sau khi nhiễm bệnh lần đầu, cơ thể tự sản xuất kháng thể chống lại virus và kháng thể này có tác dụng lâu dài.

Bệnh thủy đậu, hay còn gọi là trái rạ, là bệnh do virus gây ra. Bệnh lây truyền rất nhanh, ảnh hưởng đến da và niêm mạc.

Hệ miễn dịch ở người sẽ tự miễn dịch hoặc có tự kháng thể với virus sau khi bị bệnh thủy đậu lần đầu tiên. Tuy vậy, ở những trường hợp hệ miễn dịch yếu, thủy đậu có thể tái phát trở lại, gọi là bệnh zona (tái kích hoạt virus thủy đậu). Tiêm chủng bằng vắc xin varicella-zoster có thể ngăn chặn bệnh thủy đậu và bệnh zona.

1. Dấu hiệu bệnh thủy đậu

Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo trước.

Khi bị thủy đậu, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 – 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 – 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 – 5 ngày.

Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày dẫn đến việc phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ.

Nếu nghi ngờ bạn hoặc con bạn bị thủy đậu, hãy tìm gặp bác sĩ để được chẩn đoán kịp thời vì thủy đậu còn có thể dẫn đến biến chứng thần kinh (theo nghiên cứu thuộc Khoa Y, Jawaharlal Viện Giáo dục và Nghiên cứu Y khoa Sau đại học, Pondicherry, Ấn Độ). Ngoài ra, phải lập tức báo bác sĩ biết nếu bạn gặp những trường hợp sau:

Các nốt ban lan rộng đến một hoặc cả hai mắt;

Các nốt ban rất đỏ, cảm giác nóng hoặc nhạy cảm, có thể đó là dấu hiệu của việc da bị nhiễm trùng;

Phát ban kèm theo chóng mặt, mất phương hướng, nhịp tim nhanh, khó thở, run rẩy, ho nặng, nôn mửa, cứng cổ hoặc sốt cao hơn 39,4 độ C;

Khi có bất cứ người nào trong gia đình miễn dịch yếu hoặc có trẻ em dưới 6 tháng tuổi.

Thủy đậu khởi phát từ 10 đến 21 ngày sau khi bệnh nhân tiếp xúc với virus và thường kéo dài khoảng từ 5 đến 10 ngày. Phát ban là dấu hiệu cho thấy bệnh đã khởi phát. Các dấu hiệu và triệu chứng khác có thể xuất hiện 1-2 ngày trước phát ban, bao gồm:

Một khi khởi phát, bệnh thủy đậu sẽ diễn biến qua 3 giai đoạn:

Xuất hiện các nốt mẩn đỏ với kích cỡ khác nhau sau đó lan ra toàn thân

Các bóng nước xuất hiện

Bóng nước khô đi và đóng vảy, nhiều ngày sau thì lớp vảy bong ra.

Lưu ý: Khi trẻ bị bệnh thủy đậu, bố mẹ tuyệt đối không để con gãi vì nếu bóng nước vỡ chúng sẽ lan rộng và để lại sẹo sâu cùng nhiều biến chứng nguy hiểm khác.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, do virus Varicella Zoster gây ra và thường bùng phát thành dịch vào mùa xuân.

Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi. Ngoài ra, khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu, bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai.

3. Biến chứng bệnh thủy đậu

Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính. Nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm như:

Viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị.

Viêm não do thủy đậu cũng xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, kích thích, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có thể mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, chậm phát triển, động kinh v.v…

Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này.

Hội chứng sốc nhiễm độc

Hội chứng Reye đối với những người dùng aspirin trong thời gian bị thủy đậu.

Nhiễm khuẩn da, mô mềm, xương, khớp hoặc máu (huyết tương)

Mất nước

Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.

4. Chăm sóc và phòng ngừa biến chứng thủy đậu

Vì là bệnh lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với dịch nốt phỏng nên khi trẻ bị thủy đậu, việc đầu tiên là các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn.

Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ. Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng.

Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch. Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng.

Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.

Lưu ý:

Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài.

Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn.

Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa.

Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%.

Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch.

Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.

Đối với trẻ em:

Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.

Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.

Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.

Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh.

Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

Phòng bệnh thủy đậu

Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin.

Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng. Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.

Gọi ngay cho bác sĩ nếu bạn đang mang thai và nghĩ rằng bạn có thể mắc bệnh thủy đậu;

Rửa tay thường xuyên, giặt khăn trải giường và quần áo mới mặc bằng nước xà phòng nóng;

Cắt móng tay ngắn để tránh làm trầy xước và nhiễm trùng;

Nghỉ ngơi nhưng cho phép vận động nhẹ;

Dùng thuốc không chứa aspirin để hạ sốt;

Thông báo cho y tá và các bậc phụ huynh ở trường do có khả năng bị lây nhiễm;

Dùng thuốc trị dị ứng và tắm bằng bọt biển mát để giảm ngứa;

Đi khám bác sĩ nếu nhiệt độ cơ thể cao hơn 38 độ C hoặc khi bạn cảm thấy yếu ớt, đau đầu hoặc nhạy cảm với ánh sáng;

Gọi cho bác sĩ nếu bạn nôn mửa, không thể nghỉ ngơi, khó chịu và giảm ý thức;

Hãy biết rằng đã có vắc xin ngừa thủy đậu dành cho người chưa từng mắc bệnh.

Bên cạnh đó, cần phải tránh xa những thực phẩm nên kiêng ăn khi bị thủy đậu vì chúng có thể kích thích vết loét, làm chậm quá trình lành vết thương hoặc thậm chí khiến tình trạng bệnh trở nặng hơn.

5. Bệnh thủy đậu kiêng gì?

Khi mới bắt đầu bị thủy đậu, một số lưu ý bạn nắm rõ để bệnh mau khỏi và hạn chế lây lan bệnh sang người khác:

Kiêng tiếp xúc với nhiều người. Bệnh thủy đậu là bệnh truyền nhiễm với nhiều cách lây truyền khác nhau. Vì vậy, việc tiếp xúc nhiều người sẽ khiến virus gây bệnh lây lan, làm tăng nguy cơ mắc bệnh ở những người xung quanh.

Không chạm, gãi hoặc làm vỡ các nốt thủy đậu. Thủy đậu có dạng mụn nước. Khi mụn nước vỡ, các nốt thủy đậu có thể lây lan nhiều hơn, làm tổn thương da nghiêm trọng.

Không tiếp xúc với gió, nước. Khi bị thủy đậu, hệ miễn dịch lúc này đang yếu. Nếu bạn tiếp xúc với gió, nước, sẽ tạo điều kiện cho các loại virus xâm nhập vào cơ thể.

Không ăn thực phẩm tanh (thịt bò, thịt gà, hải sản,….), trái cây có chứa axit, đồ ăn cay nóng, đồ ăn mặn, nhiều dầu mỡ, sữa và các chế phẩm từ sữa, cà phê và socola.

Tuy thủy đậu chỉ mắc một lần trong đời nhưng khi bị nhiễm virus, chúng có khả năng ủ bệnh trong các sợi thần kinh và nếu sau này có yếu tố thuận lợi, virus này sẽ bùng phát trở lại gây ra bệnh giời leo (zona). Một khi tiêm phòng thủy đậu, bạn đồng thời có thể phòng ngừa được bệnh zona. Không những thế, mặc dù thủy đậu là bệnh lành tính nhưng bệnh có khả năng gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não và có thể để lại sẹo nếu bị nhiễm trùng. Do đó tiêm ngừa là phương pháp đơn giản phòng và tránh biến chứng của bệnh.

300 views

Tất Tần Tật Những Điều Bà Bầu Cần Biết Khi Bị Thủy Đậu Trong 3 Tháng Đầu

Bệnh thủy đậu là gì?

Thủy đậu là một bệnh lý do virus Varicella zoster virus (VZV) gây ra. Bệnh hay gặp ở trẻ em. Thông thường đối với một người thể trạng bình thường thì bệnh không gây nhiều nguy hại, nhưng đối với bà bầu thì nguy cơ gây biến chứng của thủy đậu cao hơn. Vì vậy việc phòng tránh cũng như xử trí tốt khi bị thủy đậu trong thời kỳ mang thai là rất quan trọng.

Triệu chứng chính của bệnh thủy đậu thường thấy là nổi mụn nước và sốt

Triệu chứng chính của bệnh thủy đậu bao gồm phát ban ngứa, nổi mụn nước và sốt. Những triệu chứng này xuất hiện khoảng 2 tuần sau khi bà bầu bị nhiễm virus VZV gây thủy đậu.

Bị thủy đậu khi mang thai nguy hiểm như thế nào trong 3 tháng đầu?

Bệnh thủy đậu gây ảnh hưởng trong cả lúc mang thai và sau khi em bé ra đời. Tuỳ vào thời gian bị bệnh của bà bầu mà có thể gây nên nhiều ảnh hưởng khác nhau. Bà bầu bị thủy đậu trong giai đoạn đầu của thai kỳ sẽ dễ gây biến chứng nguy hiểm nhất vì lúc này là giai đoạn đầu hình thành nên các cơ quan bộ phận của thai nhi. Nếu virus xâm nhập và gây hại trong giai đoạn này sẽ gây cản trở việc hình thành, phân chia và phát triển bình thường của thai nhi, dễ gây ra các dị dạng, dị tật như làm hỏng da, mắt, chân, tay, não, bàng quang hoặc ruột của em bé.

Tỷ lệ trẻ sinh ra bị ảnh hưởng do có mẹ nhiễm thủy đậu là khá lớn, nhưng cũng có nhiều trường hợp trẻ được sinh ra khỏe mạnh và phát triển bình thường. Có một số khuyết tật bẩm sinh (nếu có) ở trẻ thường gặp là động kinh, mù, chậm phát triển thể chất và trí tuệ.

Những điều bà bầu cần làm khi bị thủy đậu?

Lời khuyên tốt nhất cho bà bầu là đến bác sĩ ngay khi có các triệu chứng của thủy đậu (sốt, nổi bọng nước, ngứa, phát ban,…) để được thăm khám, làm xét nghiệm, từ đó được chẩn đoán đúng và điều trị đúng mà đảm bảo an toàn cho thai nhi.

Bà bầu cần đi khám để xác định chính xác tình trạng bệnh

Nếu bị thủy đậu trong lúc mang thai, thông thường, các bà bầu sẽ được chỉ định một loại thuốc kháng virus an toàn và hiệu quả là acyclovir để giúp khắc phục các triệu chứng của bệnh. Loại thuốc này có tác dụng tiêu diệt các bệnh nhiễm trùng do virus và khá an toàn trong thai kỳ. Tuy nhiên khi dùng thuốc này có thể gây viêm phổi cho người mẹ nếu mắc trong những tháng cuối thai kỳ. Vì vậy nên lưu ý là nếu nhận thấy bất kỳ dấu hiệu viêm phổi nào, bà bầu cần được nhập viện ngay và điều trị với lượng thuốc chống virus cao hơn thông qua đường truyền tĩnh mạch.

Nếu trẻ mới sinh cũng bị thủy đậu lây từ mẹ, bác sĩ sẽ điều trị thủy đậu cho bé ngay từ lúc bé vừa sinh ra bằng thuốc có kháng thể thủy đậu. Kháng thể là các tế bào trong cơ thể chống lại virus VZV khi chúng xâm nhập vào cơ thể trẻ. Thuốc có tác dụng ngăn ngừa bệnh thủy đậu ở bé hoặc làm cho nó bớt nguy hiểm. Nếu bé vẫn bị thủy đậu sau khi được điều trị, bác sĩ sẽ dùng đến thuốc kháng virus như acyclovir cho người lớn nhưng với liều lượng thấp hơn.

Cách phòng tránh thuỷ đậu cho bà bầu

Khi đã trả lời được câu hỏi bà bầu bị thủy đậu phải làm sao thì các mẹ cần tìm hiểu các cách phòng tránh thủy đậu. Đầu tiên, bà bầu nên làm xét nghiệm máu để xác định xem cơ thể đã có kháng thể miễn dịch với bệnh thủy đậu hay chưa. Nếu chưa có, bà bầu cần được tiêm vacxin để phòng ngừa. Tốt nhất là đợi 1 tháng sau khi tiêm vacxin rồi mới mang thai.

Bà bầu nên làm xét nghiệm máu

Nếu đã mang thai mà chưa kịp tiêm vacxin hoặc chưa bị thủy đậu trước đó thì không nên tiêm vacxin thủy đậu cho đến khi sinh con. Trong suốt thời kỳ mang bầu, bà bầu cần tránh tiếp xúc với bất cứ ai bị thủy đậu hoặc bệnh zona (2 bệnh này do 2 chủng virus cùng họ gây ra, có thể sinh miễn dịch giống nhau).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Mang Thai Bị Thủy Đậu Cần Thận Trọng Như Nào? trên website Europeday2013.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!